Xây dựng đạo đức, lối sống con người Việt Nam

Hương ước, quy ước đối với giáo dục truyền thống, giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc

01 Tháng Bảy 2019

Cùng với quá trình toàn cầu hóa, đời sống văn hóa đưa đến những biến đổi mạnh mẽ về đời sống kinh tế, văn hóa –xã hội, phong tục tập quán truyền thống tốt đẹp của dân tộc, thì ở nhiều làng quê, nhiều giá trị văn hóa, phong tục, tập quán tốt đẹp của cộng đông vẫn được gìn giữ và phát triển thông qua các thiết chế xã hội của cộng đồng. Hương ước, quy ước là một trong những thiết chế quan trọng trong việc gìn giữ và phát triển các giá trị văn hóa truyền thống tổ tốt đẹp của dân tộc.

Hương ước, quy ước là những quy tắc, chuẩn mực về đạo đức, xã hội do cộng đồng lập ra nhằm điều chỉnh các hành vi, ứng xử của tập thể và các thành viên trong cộng đồng làng, gìn giữ và phát phát triển các giá trị văn hóa truyền thống, thuần phong mỹ tục của dân tộc được thể hiện dưới nhiều tên gọi khác nhau như khoán ước, cựu khoán, tục lệ, khoán lệ, ước lệ, sổ chính trị phong tục.... Các văn bản này có các tên gọi khác nhau nhưng đêu đươc gọi chung là hương ước làng xã  truyền  thống,  tục lệ cổ truyền hay hương ước cổ truyền.

Hiện nay, các nhà nghiên cứu đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về hương ước, quy ước. Theo GS. Phan Đại Doãn, “hương ước tức là lệ làng thành văn bản, hay hương ước là công cụ tự điều khiển, tự điều chỉnh của làng xã” [12, tr.20-21]. Tác giả Trần Từ cho rằng: “Dù không phải là một bộ luật hoàn chỉnh, hương ước với những điều quy định về một số nét sinh hoạt riêng biệt của làng xã, vẫn đóng vai trò một “cương lĩnh”, có thể còn khá chung chung, nhưng dù sao vẫn đáng được xem là một cương lĩnh về nếp sống hàng ngày của làng xã, mà mọi cá nhân, mọi tổ chức trong làng, trong xã phải tuân thủ” [57, tr.103]. Nhà dân tộc học Bùi Xuân Đính - một trong những nhà nghiên cứu đã có nhiều công trình nghiên cứu về hương ước, quy ước đã đưa ra định nghĩa tương đối toàn diện về hương ước, quy ước  “Hương ước (Hương khoán, Hương biên, Hương lệ...) là văn bản ghi lại những tục lệ của Làng, bao gồm các quy định về thế ứng xử, về các nghĩa vụ phải gánh vác, những việc được làm hay bị cấm đoán nhằm buộc từng tổ chức, cá nhân vào đời sống cộng đồng” [51, tr.11].

Thuần phong, mỹ tục của dân tộc, mỗi làng được hiểu là những giá trị văn hóa hướng con người tới cuộc sống tốt đẹp, hòa thuận, biết ơn tổ tiên, cội nguồn dân tộc, chăm chỉ hăng say lao động, đoàn kết, hiếu thảo... được xem là thuần phong, mỹ tục của dân tộc[1]. Còn những tập tục đi ngược lại các chuẩn mực đạo đức, lối sống được coi là hủ tục cần phải thay đổi, loại bỏ. Để giữ gìn thuần phong mỹ tục của cộng đồng trước những tác động của các yếu tố bên ngoài và những yếu tố nội sinh cần có sự thay đổi cho phù hợp, cha ông ta đã vận dụng hương ước, quy ước làm công cụ để bảo vệ những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của cộng đồng. Giáo dục truyền thống, gìn giữ thuần phong, mỹ tục được xác định là một trong những mục đích quan trọng trong xây dựng hương ước, quy ước ở các thôn, làng, ấp bản ở nước ta trong suốt chiều dài lịch sử.

Ở nước ta, từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về hương ước, quy ước. Các công trìn nghiên cứu trước những năm 1990 chủ yếu biên dịch, giới thiệu nội dung của các bản hương ước, quy ước; các nghiên cứu về hương ước, quy ước dưới góc độ là một thiết chế xã hội tự quản của cộng đồng, làng xã Việt Nam như: Nhà ngiên cứu  Phan Kế Bính với cuốn Việt Nam phong tục; Tiến sĩ Nguyễn Văn Huyên đề cập một số nét của hương ước khi nghiên cứu về tổ chức xã hội và tổ chức thờ cúng ở làng xã; Trần Từ. Trong cuốn sách Cơ cấu tổ chức của làng việt cổ truyền ở Bắc Bộ (Nxb. Khoa học xã hội, 1984), ông là người đầu tiên chỉ ra vai trò của hương ước trong việc kết nối các thiết chế tổ chức, điều chỉnh mối quan hệ xã hội trong làng, làm cho thiết chế làng xã vận hành uyển chuyển; từ đó hương ước đóng vai trò là “cương lĩnh tinh thần” của từng cộng đồng cư dân Việt...

Các công trình nghiên cứu hương ước, quy ước dưới góc độ bảo tôn văn các giá trị văn hóa truyền thống chủ yếu được thực hiện sau năm 1990, khi đất nước ta bước vào thời kỳ đổi mới đất nước dẫn đến những biến đổi sâu sắc về đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội đã đặt ra những vấn đề về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiên, đậm đà bản sắc dân tộc. Bảo tồn và phát triển các giá trị văn hóa truyền thống là nhiệm vụ quan trọng của đất nước. Do vậy, việc nghiên cứu như một nhu cầu, không chỉ để phục vụ việc soạn thảo và thực hiện quy ước làng, mà còn để tiếp tục tìm hiểu về làng Việt cổ truyền, tiêu biểu như: Kỷ yếu Xây dựng Quy ước làng văn hoá ở Hà Bắc" do Sở Văn hóa thông tin và Thể thao tỉnh Hà Bắc; Lê Thị Hiền có bài viết “Văn hóa hương ước- từ truyền thống đến hiện đại”; “Truyền thống Việt Nam qua tư liệu hương ước” của Bùi Xuân Đính...Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu chuyên sâu về hương ước, đối với giáo dục truyền thống, giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc trong gia đoạn hiện nay chưa được các nghiên cứu quan tâm, tìm hiểu. Chính vì vậy, ở bài viết này tác giả đi sâu vào phân tích vai trò của hương ước, quy ước trong việc giáo dục truyền thống, giữ gìn thuần phong mỹ tục ở nước ta hiện nay trên cơ sở nghiên cứu trường hợp ở tỉnh Hải Dương, Thừa Thiên Huế và Long An.

1. Hương ước, quy ước với việc giáo dục văn hóa truyền thống của cộng đồng

Gìn giữ, giáo dục văn hóa truyền thống là một trong những nội dung quan trọng trong được thể hiện ở mục đích của việc xây dựng hương ước, quy ước của làng là nhằm giáo dục truyền thống, phong tục tập quán tốt đẹp của cộng đồng, phòng ngừa, bài trừ những thói hư, tật xấu làm ảnh hưởng đến văn hóa truyền thống của làng. Trong bản Thuận định Văn La soạn năm Bảo Đại thứ 16 có ghi“lập điều lệ làng để ngăn ngừa nhân tâm, nhân tâm mà được thuần hậu, thì nhân dân trong làng ngày càng thịnh vượng thêm, làng ta các ngài khoa hoạn vẻ vang dời trước, các ngài lương thiện theo nối ở sau, điều lệ trong làng vẫn hoàn thiện, phong tục vẫn đã thuần lương. Nhưng đến đời bấy giờ lòng người không được như xưa, nên phải ngăn ngừa ở lúc chưa xảy ra, để bảo tồn phong tục thuần hậu cho được như xưa”[2]. Các bản hương ước, quy ước xây dựng làng văn hóa sau nay cũng được xây dựng dựa trên sự kế thừa các bản hương ước, quy ước cũ như bản quy ước xây dựng thôn văn hóa Tân Mỹ, xã Qảng Ngạn, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huến, năm 2016 có ghi “ Vào thế kỷ 19, Vua Duy Tân đã ban chiếu chỉ thành lập Làng phân chia ranh giới, trong suốt quá trình thành lập xây dựng nên làng Tân Mỹ, các vị tiền nhân đã để lại cho con cháu đời sau những di sản vô cùng quý giá, đó là đạo đức, thuần phong mỹ tục, đấu tranh bất khuất, lao động cần cù sáng tạo để xây dựng làng đã trên 250 năm... để giữ gìn truyền thống đạo đức “thuần phong mỹ tục” và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc...”[3].

Hương ước, quy ước trở thành phương tiện để truyền tải, giáo dục, khuyến khích và nuôi dưỡng những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của gia đình, dòng họ, làng bản, tránh xa những thói hư tật xấu, loại bỏ những hủ tục tập quán không phù hợp, hướng tới xây dựng những quy tắc, chuẩn mực đạo đức, xã hội phù hợp với đời sống kinh tế, văn hóa, tín ngưỡng của từng làng, từng dân tộc. Qua nghiên cứu khảo sát, các bản hương ước, quy ước xây dựng thôn, làng, ấp bản hiện nay đều có những điều, khoản quy định rất cụ thể trong việc gìn giữ nền nếp gia phong của gia đình, dòng họ, cộng đồng làng như: Bản quy ước làng Hạ Mỗ, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội soạn thảo năm 2012, có 8 chương, 26 điều thì có 2 chương (chương II quy định về nghi lễ truyền thống và thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội; Chương III, quy định về nếp sống văn hóa và quan hệ xã hội), 11 điều quy định việc thực hiện bảo tồn những nghi lễ truyền thống, nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội; nếp sống trong quan hệ cộng đồng, bài trừ hủ tục lạc hậu... Bản quy ước thôn văn hóa thôn Đông Xuyên, xã Quảng An, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế có 8 chương, 35 điều thì có 2 chương, 22 điều quy định về văn hóa, xã hội, nghi thức tiệc tùng trong thôn. Bản quy ước xây dựng đời sống văn hóa Ấp 2, xã Thạch Đức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An có 02 chương, 14 điều thì có 1 chương, 12 điều quy định về văn hóa xã hội. Qua đó cho thấy các quy định về văn hóa, xã hội, bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống chiếm phần lớn nội dung của các bản quy ước.

Qua kết quả điều tra xã hội học đối với người dân ở các thôn bản trên địa bàn tỉnh Hải Dương, Thừa Thiên Huế và Long An, phần lớn những người được hỏi đều quan tâm, mong muốn đưa các quy định về gìn giữ, bảo tồn văn hóa truyền thống của cộng đồng vào hương ước, quy ước.

Bảng 3.1. Đánh giá của người dân về sự cần thiết xây dựng các quy tắc ứng xử văn minh trong cộng đồng.

Nội dung

Tổng

(N = 100%)

Tần suất (%)

Cần thiết

Không cần thiết

Phát huy tinh thần tương thân tương ái

409

71.4

28.6

Giao tiếp lịch sự, lễ phép

409

90.5

9.5

Chia sẻ, giúp đỡ nhau lúc khó khăn

409

91.7

8.3

Giúp nhau phát triển kinh tế

409

68.0

32.0

Nguồn: Kết quả điều tra xã hội học tại tỉnh Hải Dương, Thừa Thiên Huế và Long An năm 2017.

Nội dung các quy định giáo dục thuần phong mỹ tục của cộng đồng trong các bản hương ước, quy ước nhiều hay ít phụ thuộc vào đặc điểm kinh tế xã hội, phong tục tập quán, đời sống tín ngưỡng của từng làng, từng dân tộc mà mỗi làng sẽ có những điều khoản quy định riêng, nhưng đều hướng tới một số nội dung như: giáo dục những phong tục, tập quán tốt đẹp của gia đình, dòng họ, quê hương; giáo dục truyền thống hiếu học; bảo tồn di tích, các nghi lễ, lễ hội truyền thống của cộng đồng. Trong gia đình, các bản hương ước chú trọng đến việc giáo giáo dục đạo lý, trung hiếu, tiết nghĩa, hòa thuận, thương yêu nhau. Mỗi thành viên nên biết hướng thiện, biết cảm thông và sống vị tha, cư xử đúng mực, có lối sống lành mạnh, thường xuyên luyện tập thể dục thể thao; giáo dục nề nếp gia phong, dòng họ có ý thức giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá, truyền thống tốt đẹp của gia đình và dòng họ, con cháu hiếu thảo, kính trọng, chăm sóc, phụng dưỡng ông, bà, cha, mẹ, ông bà sống gương mẫu, chăm lo, dạy bảo con, cháu trở thành người có ích cho xã hội...Ở mỗi gia đình, mỗi dân tộc lại có những quy tắc riêng về nếp ăn, ở, đi lại, ứng xử, giao tiếp giữa các thành viên. Trong các gia đình ở khu vực phía Bắc thường chú trọng đến giáo dục lễ nghi, ứng xử, trung hiếu, tiết nghĩa, kính trên, nhường dưới, anh em sống hòa thuận, thương yêu nhau. Còn trong các gia đình vùng đồng bào dân tộc thiểu số ngoài ngoài việc xây dựng mối quan hệ ứng xử hoài hòa, đoàn kết, tương thân tương ái còn có những quy định rất chặt chẽ trong quan hệ hôn nhân, thứ bậc, địa vị và các nghi lễ truyền thống của gia đình như: trong gia đình của người Mông quy định con dâu tuyệt đối không được vào buồng ngủ của bố chồng và bố chồng cũng tuyệt đối không được vào buồng ngủ của con dâu; anh trai không được gắp thức ăn cho em dâu; chỉ nam giới mới được tham gia vào các hoạt động thờ cúng của gia đình, dòng họ... Các quy tắc, chuẩn mực về đạo đức, lối sống của gia đình luôn chịu sự chi phối, giám sát của cộng đồng. Những gia đình có nền nếp, gia phong, con cháu cư xử đúng mực, sống hòa thuận, hiếu thảo, đoàn kết, tiết nghĩa luôn được cộng đồng tôn trọng và ngược lại những gia đình không có nền nếp, mất đoàn kết sẽ bị cộng đồng chê trách, coi thường.

Bên cạnh giáo việc giáo dục truyền thống gia đình, còn gắn liền với việc giáo dục truyền thống của dòng họ khuyến khích tinh thần học tập, khoa cử của các dòng họ, con em trong làng. Một một số làng có quy định người đi học được miễn hoàn toàn phu phen tạp dịch từ một đến ba năm và được giảm một nửa thuế thân, có làng còn miễn nhiều hơn, thậm chí có làng lại miễn thêm cả việc binh lính cho những người đi học để tiện cho việc học tập. Đặc biệt, có làng còn đưa ra quy định miễn hết mọi việc sưu thuế cho người đang đi học, và người đi học phải có trách nhiệm chuyên tâm vào việc học; nếu làng phát hiện ra người nào vừa đi học, vừa đi cày thì sẽ đình chỉ ngay việc nhiêu miễn để “răn cái lỗi không chăm học” (hương ước làng Mộ Trạch (Hải Dương)...).[4] Bên cạnh việc giáo dục, các bản hương ước còn có những quy định về trách nhiệm của bố mẹ phải “có trách nhiệm nuôi, dạy các con khỏe mạnh, được học tập đầy đủ, được khám bệnh và được vui chơi giải trí để phát triển toàn diện. Các gia đình cam kết quan tâm đến con em, không đánh đập, ngược đãi trẻ em, không để trẻ em bỏ học... Mọi người dân trong làng ủng hộ, giúp đỡ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, khuyến khích trẻ em học giỏi, trẻ em có năng khiếu và tạo điều kiện để giúp đỡ phát triển”[5]. Ở hầu hết các bản hương ước mà chúng tôi thu thập được đều có có những điều, khoản quy định về khuyến khích, động viên, khen thưởng, ghi công lưu bút những người trong làng thi cử đỗ đạt cao “khen thưởng, ghi công những người đỗ đạt vị cử nhân, học sinh giỏi cấp tỉnh, cấp quốc gia; lưu bút tích những người đỗ học vị thạc sĩ, tiến sĩ, giáo viên nhân dân, nghệ sĩ nhân dân hoặc những học vị tương đương và học sinh giỏi cấp quốc gia”[6]

Vinh danh những người đỗ đạt có tác dụng giáo dục truyền thống đối với mọi thành viên trong cộng đồng, con cháu trong làng hăng say học hành, đào tạo, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. Bên cạnh việc động viên con cháu chăm ngoan học hành, những cũng không quên răn dạy con cháu phải rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, lễ nghĩa, biết thương yêu, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau, không học những thói hư, tật xấu... Những người không có trí, lười biếng, không chịu học hành sẽ bị làng chê cười.

Còn đối với các dòng họ ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số họ lại chú trọng đến việc duy trì nền nếp, gia phong và những phong tục tập quán riêng biệt của dòng họ mình như: Tục thờ cúng Bàn Vương (tổ tiên của người Dao) của người Dao; Lễ cúng giải hạn “Tu su” của dòng họ Sùng của người Mông ở Lào Cai; Tết nhảy của dòng họ Phàn, Tẩn của người Dao ở khu vực miền núi phía Bắc... Còn trong các bản hương ước, quy ước ở các tỉnh phía Nam lại chú trọng đến việc giáo dục tinh thần đoàn kết, giúp đỡ nhau phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường.

- Hương ước với việc giáo dục truyền thống tốt đẹp của làng: Phần lớn nội dung các bản hương ước, quy ước đều hướng tới giáo dục con cháu những điều hay, lẽ phải, luân thường, đạo lý trong quan hệ gia đình, hàng xóm láng giiềng như: trong cuộc sống hàng ngày, ai nấy đều hiếu đễ với cha mẹ, chú bác, anh chị, tình nhà gắn bó; đối với xóm làng phải hòa thuận, cư xử dúng mực, đoàn kết, tương thân, tương ái, giúp đỡ lẫn nhau, nhất là những lúc gia đình gặp khó khăn, hoạn nạn như: hỏa hoạn, thủy hoạn, mùa màng thất bát, cưới xin, tang gia, ốm đau không có con cái nuôi dưỡng, chăm sóc... Ngoài việc giáo dục, răn dạy con cháu làm điều hay, lẽ phải, hương ước còn khuyến khích lòng hào hiệp “Nhân dân trong xã ai có thể bỏ của ra giúp đỡ, trừ đã được phẩm hàm, ai có thể bỏ tiền, bỏ thóc ra phát chẩn trong năm mất mùa thì được châm chước miễn công vụ, canh tuần ghi vào sổ đỏ liêm yết tại đình và ghi vào sổ khuyên lành để khích lệ việc nghĩa”[7].

Các bản hương ước truyền thống và quy ước ngày nay còn rất chú trọng đến việc giáo dục truyền thống uống nước nhớ nguồn, tôn sư trọng đạo, trong người già như: “Các cụ đúng 75 tuổi, thôn tổ chức thăm hỏi chúc thọ; các cụ 80,85,90,95 làng phối hợp cùng các Chi hội tổ chức thăm hỏi, tặng quà; 100 tuổi trở lên làng tổ chức mừng đại thọ, khi qua đời làng tổ chức đưa đám tang theo nghi lễ của làng”[8]. Bên cạnh việc giáo dục con cháu về thuần phong, mỹ tục của làng, của dân tộc, các bản hương ước quy ước còn lên án, răn đe, xử phạt những hành vi vi phạm những quy tắc, chuẩn mực về đạo đức, lối sống, quy định của làng đặt ra như: việc con cái bất hiếu với cha mẹ; những người lười biếng, không chịu làm ăn, rượu chè, cờ bạc, trộm cắp hay làm những điều trái với luân thường, đạo lý làm người. Tùy theo mức độ vi phạm mà mỗi làng đặt ra các lệ phạt khác nhau. Nếu vi phạm nặng thì đưa lên quan, chính quyền giải quyết, còn nhẹ thì phạt tiền, phạt lao động công ích, phạt canh đê, canh điếm, phạt rượu, thịt, phạt không cho tham gia các công việc của làng, công bố trước toàn dân làng, thậm chí còn bị đuổi ra khỏi làng.

2. Hương ước với việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa

Làng là nơi hình thành và gìn giữ những di sản văn hóa quý báu của dân tộc. Các di sản trong các làng xã Việt Nam rất phong phú và đa dạng bao gồm di sản văn hóa phi vật thể (các phong tục tập quán, âm nhạc, nghệ thuật, lễ hội, các làn điệu hát dân ca, trò chơi dân gian...), di sản văn hóa vật thể như: các đình (thờ hành hoàng và là nơi sinh hoạt xã hội của cộng đồng làng), chùa (nơi thờ Phật), đền miếu (nơi thờ chính của thần), văn chỉ (nơi tôn vinh việc học hành và những người học hành thành đạt), nhà thờ các dòng họ, nhà thờ và lăng mộ các doanh nhân... Các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể là những giá trị văn hóa tiêu biểu, tạo nên những nét văn hóa đặc trưng của mỗi làng quê. Vì thế, chúng được cộng đồng làng bảo vệ nghiêm ngặt, giữ gìn chu đáo.

Các bản hương ước quy ước đều rất chú trọng đến việc bảo vệ các di sản văn của làng, đặc biệt là các di sản văn hóa vật thể như đình, chùa, miếu và nghi thức tế, lễ trong lễ hội, lễ cúng của làng. Trong đó các đình chùa đền miếu là nơi linh thiêng, có nhiều di vật có giá trị nên làng xã đề ra các quy định được ghi trong hương ước nhằm ngăn ngừa và xử phạt (mức phạt thường nặng hơn so với các vi phạm bình thường) đối với các hành vi xâm phạm di tích như chặt cây cối, làm mất vệ sinh, gây mất trật tự trong khu vực, lấy trộm cổ vật trong di tích... Các di vật quý được giữ gìn rất bí mật và cẩn thận, chẳng hạn, sắc phong chỉ có thủ từ và một số kỳ mục, chức dịch biết nơi cất giữ. Mỗi năm, trước dịp hội làng hay lệ tiệc chính, các đạo sắc được kiểm tra lại và đem ra phơi cho khỏi bụi mốc, ẩm, rách rồi cất vào ống sắc, hòm sắc cẩn thận. Việc chọn người trông coi “thủ từ” (người trông giữ đình, đền), thủ tự (người trông coi chùa, nếu chùa không có sư) ngoài tiêu chuẩn “song toàn” còn phải là người đứng đắn, trung thực, phúc hậu, có uy tín, được dân làng bầu ra. Trước đây các làng đều cấp ruộng cho thủ từ, thủ tự cày cấy, lấy hoa lợi cho việc đèn hương ở di tích. Một số làng còn có lệ, người làm cai đám (chịu trách nhiệm lo việc tế lễ trong kỳ hội của năm) ngay sau khi nhận chức phải rước đồ thờ về tại nhà mình, trông giữ cẩn thận đến kỳ hội (hoặc kỳ tiệc lệ) năm sau mới rước ra đình để làng mở hội. Người có trách nhiệm mà để hư hại di tích, mất mát đồ vật thờ cúng thì bị dân làng lên án và bãi chức. Nên khi đình, đền, chùa xuống cấp dân làng phải đóng góp tiền để sửa chữa “Đền, Đình, Miếu, Chùa là gốc của các việc hương ẩm; ngôi thứ, lễ nghĩa ở đấy mà ra, phong tục hay dở cũng ở đấy mà nên, bởi vậy người ở trong làng ai cũng phải trân trọng gìn giữ”[9].

Việc giáo dục ý thức bảo vệ đền, đình, miếu, chùa cho con cháu ông bà, cha mẹ đều luôn nhắc nhở phải có ý thức tôn kính thần thánh, cả khi đi qua đình chùa, đền miếu. Người xưa luôn quan niệm, không chỉ đình chùa, đền miếu mà cả những di vật trong đó đều là của thánh thần, có "tính thiêng", nếu làm để hư hỏng, mất mát, làm hủy hoại hoặc lấy trộm thì không chỉ "phải tội" với thần linh mà còn bị thần linh trừng phạt bằng cách gây ốm đau, bệnh tật hoặc làm ăn sa sút, gây bất hoà trong gia đình... Chính vì thế, xưa kia, dân làng, từ già đến trẻ đều có ý thức bảo vệ đình chùa, đền miếu, làm cho các di tích này luôn mang tính thiêng liêng, huyền bí, không ai dám xâm phạm[10].

Ngày nay, các bản quy ước xây dựng thôn, làng văn văn hóa không có nhiều quy định trong việc gìn giữ, bảo tồn các di tích như các bản hương ước trước đây, nhưng việc bảo vệ và phát huy các giá trị của di tích luôn được cộng đồng và người dân quan tâm, gìn giữ và phát triển trở thành những di sản văn hóa của mỗi làng. Gắn liền với việc bảo vệ cơ sở vật chất, không gian di tích, các bản hương ước còn chú trọng đến các nghi thức tế, lễ thể hiện lòng thành kính của nhân dân, cộng đồng với với những người có công với làng, với nước. Công việc tế, lễ được làng lựa chọn rất kỹ lưỡng như việc chọn chủ tế, văn tế, lễ vật... Bản quy ước làng văn hóa Thành Trung, xã Quảng Thành, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế quy định “Hàng năm làng tổ chức lễ Xuân Tế (Xuân kỳ), Thu Tế (Thu báo) và kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước... phải phù hợp với phong tục, tập quán, phản ánh đúng tâm tư nguyên vọng, tình cảm, tâm linh, tâm thực của quần chúng, phải giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và truyền thống tốt đẹp của quê hương”.

 Còn đối với các bản hương ước, quy ước ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số luôn có những quy định rất chặt chẽ trong việc tổ chức các nghi lễ cúng của làng như: Bản quy ước của người Dao tại thôn Dền Sáng, xã Dền Sáng, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai quy định: “Hàng năm vào ngày 02 tháng giêng, trưởng các dòng tộc trong bản sẽ họp và cử ra một người làm chủ lễ, một người làm chủ rừng và 3 người giúp việc làm nhiệm vụ chế biến đồ lễ. Ngày lễ chính mỗi gia đình phải cử một người đại diện là nam giới tham gia, tuyệt đối nữ giới không được tham gia. Trong ba ngày làng tổ chức lễ cúng rừng, mọi người trong làng tuyệt đối không được đi làm nương, lấy củi, chặt cây rừng. Các gia đình đều phải có nghĩa vụ đóng góp cho làng tổ chức lễ cúng theo từng năm...” hay ở các bản người Thái vùng Tây bắc, hàng năm dân bản đều tổ chức lễ cúng “Xêm Bản, Xêm Mường” để cầu mong cho mưa thuận gió hòa, bản làng Bình Yên; vùng người Tày, Nùng có lễ hội cầu mùa “Lồng tồng” được tổ chức vào dịp đầu năm mới để cầu cho mưa thuận gió hóa, bản làng bình yên, gia đình yên ấm, hạnh phúc. Việc tổ chức, thực hành các nghi thức tế lễ các vị thần linh phụ thuộc vào đặc điểm văn hóa, phong tục, tập quán của từng vùng. Thông qua hoạt động lễ hội truyền thống nhiều giá trị văn hóa truyền thống của các thôn, làng, bản được duy trì và phát triển như: hát chèo, tuồng, dân ca, dao duyên đối đáp, hò... cùng các trò chơi dân gian truyền thống nhưa đua ngựa, đua thuyền, tung còn, bắn cung, kéo co... Nhiều di sản văn hóa vật thể, phi vật thể của các làng quê đã được vinh danh trở thành các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của quốc gia và nhân loại như: nghệ thuật kiến trúc cung đình Huế, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, Đờn ca tài tử Nam Bộ, Dân ca ví, dặm Nghệ tĩnh, Dân ca quan họ Bắc Ninh, Hát xoan, Nhã nhạc cung đình Huế...

Với chức năng là thiết chế văn hóa xã hội, đồng thời là si sản văn hóa của cộng đồng, hương ước, quy ước đóng vai trò quan trọng vào việc giáo dục, gìn giữ và bảo tồn thuần phong, mỹ tục của dân tộc. Tuy nhiên, các bản hương ước, quy ước xây dựng đời sống văn hóa hiện mới chỉ chú trọng đến việc xây dựng nội dung của hương ước, quy ước, còn việc triển khai, đưa các quy định đó vào thực tiễn đời sống của người dân và được người dân thực hiện như thế nào thì chưa được chú trọng. Ở một số nơi, việc xây dựng quy ước, hương ước còn mang tính hình thức, do vậy ở nhiều thôn bản chưa phát huy được vai trò của mình trong việc bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống của mình. Một số phong tục, tập quán tốt đẹp của cộng đồng chưa được phát huy một cách hiệu quả.

Bùi Duy Chiến

 

[1] Lê Đức Tiết Về hương ước lệ làng Nxb Chính Trị quốc gia Hà Nội năm 1998, Trang.106.

[2] Nguyễn Hữu Thông Mạch sống của hương ước trong làng việc Trung Bộ, trang.55

[3] Quy ước thôn văn hóa thôn Tân Mỹ, xã Quảng Ngạn, huyện Quảng Điền, năm 2016.

[4] Trần Thị Thu Hà – Luận văn Ths Vấn đề sản xuất nông nghiệp và bảo vệ môi trường tự nhiên qua một số hương ước tiêu biểu vùng châu thổ sông Hồng.

[5] Bản quy ước văn hóa Đông Xuyên, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2013.

[6] Bản quy ước văn hóa thôn Tân Mỹ, xã Quảng Ngạn, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2016.

[7] Tục lệ làng Lễ Khê, huyện Hương Trà, tỉnh Thưa Thiên Huế.

 

[8] Quy ước thôn văn hóa Đông Xuyên, xã Quảng An, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2013.

[9] Hương khóa xã Phù Xá Đoài, Tổng Phù Xá, huyện Kim Anh, huyện Phúc Yên năm 1906 đang lưu giữ tại Thư viện Hà Nội.

[10] Bùi Xuân Đính (2003), “Cha ông ta bảo vệ di sản văn hóa”, Tạp chí Di sản Văn hóa, số 2, trang 67- 71.