Chào mừng đến với cổng thông tin điện tử CỤC VĂN HÓA CƠ SỞ
Tìm kiếm thông tin
Liên kết website
Thống kê truy cập
  • Online: 21
  • Visited: 5880960

Từ Làng văn hoá đến…làng văn hoá du lịch các dân tộc Việt Nam

Theo báo cáo công tác của Bộ văn hoá Thể thao và Du lịch đến năm 2008 vừa qua cả nước đã có 41.530 làng (thôn, bản, ấp, khóm… ), được công nhận danh hiệu Làng văn hoá (LVH).

           Đây là một thành tựu đáng kể. Không phải dễ dàng, ngẫu nhiên mà có được con số thành tích trên. Suốt gần 20 năm qua tính từ năm 1991, năm khởi đầu phong trào xây dựng LVH đến nay đã vượt qua một chặng đường phát triển liên tục từ không đến có, từ tự phát đến tự giác, có chỉ đạo điểm đến triển khai sâu rộng  từ ngành văn hoá đến đa ngành liên quan; đặc biệt là sự phối hợp của các ngành Thể dục thể thao, Giáo dục, Y tế,  Lao động - thương binh xã hội Tư  pháp Quân đội, Công an, của Mặt trận tổ quốc, của các hội  Nông dân, Cựu chiến binh, đoàn thể Thanh niên, Phụ nữ…
             Mặc dù kết quả số lượng, chất lượng chưa được như mong muốn, với những hạn chế, nhược điểm cần tiếp tục khắc phục, song phải khẳng định rằng xây dựng LVH là một công tác tích cực quan trọng của ngành văn hoá nói chung và công tác văn hoá cơ sở nói riêng.
            Đây là một phát kiến đứng đắn, nảy sinh từ thực tiễn cuộc sống sinh động ở  nông thôn trong thời kỳ đòi hỏi tháo gỡ khó khăn kinh tế đến bức xúc về  phương thức xây dựng nông thôn mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa với đặc điểm  Việt Nam vào thời điểm  cuối thập kỷ 80 của thế kỷ trước.
            Đây là một phong trào hợp lòng dân ý Đảng, ra đời vào thời kỳ đổi mới có sức thu hút lực lượng đông đảo nông dân  tham gia và khả năng hấp dẫn quy tụ các phong trào vận động vốn có ở nông thôn. Phong trào xây dựng LVH lúc đầu phát triển cục bộ, đơn lẻ do ngành văn hoá khởi xướng, ( năm 1991), cũng như phong trào Toàn dân đoàn kết xâydựng cuộc sống mới ở khu dân cư do Trung ương mặt trận tổ quốc Việt Nam  phát động sau này từ năm 1995 .Đến năm 2005 cả hai phong trào trên đã được thống nhất dưới sự chỉ đạo chung của Ban chỉ đạo Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá từ Trung ương đến địa phương,  với những tiêu chí cần thiết, bước đi, cách làm thích hợp của ngành Văn hoá và Mặt trận tổ quốc các cấp phối hợp chặt chẽ.
            Mặt tích cực nhất của việc xây dựng LVH là phát huy được những giá trị đích thực của văn hoá truyền thống, của bản sắc dân tộc được kết tinh, lưu giữ  ở văn hoá làng và văn hoá gia đình Việt Nam vào xây dựng cuộc sống hôm nay. Cái đậm đà, sự đa dạng văn hoá dù trải qua bao biến động của thời gian, ngoại cảnh, nó vẫn tiềm ẩn một cách sinh động trong môi trường làng - xã cùng với chủ nhân của nó dù cuộc sống có biến đổi bao nhiêu thì cho đến nay số đông dân số Việt Nam vẫn là nông dân - lực lượng lao động chính trên địa bàn nông thôn rộng lớn vẫn quanh năm một nắng hai sương, gắn bó  với ruộng đồng, nương rẫy, bản làng. Chất nông dân, con người của thôn dã đã trở nên thâm căn cố đế, dù có sống ở đô thị  quá nửa cuộc đời, dù có đến chân trời nào trên trái đất này thì  nó cái chân chất, mộc mạc rất đáng yêu ấy cũng khó thay đổi. Làng thôn Việt Nam còn nghèo về vật chất nhưng vẫn là cái bảo tàng sống động. NơI lưu giữ  các di sản lưu giữ quý giá giàu bản sắc dân tộc rất dáng trân trọng.
Nội dung, của việc xây dựng LVH không có gì khác là làm cho làng, thôn, ấp bản có đời sống vật chất ổn định, phát triển, có đời sống văn hoá - tinh thần lành mạnh phong phú,  góp phần thực hiện mục tiêu dân giầu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh mà Đảng ta đang dẫn dắt.
Xây dựng LVH đã đánh trúng vào tâm lý người nông dân và nhu cầu thiết thực của họ với sự gắn bó máu thịt trong cộng đồng làng - xã  nối kết gia đình, dòng tộc. Những con đường làng, cái cổng làng, đình làng, chùa làng, ao làng, giếng làng.. là những hình ảnh rất dỗi thân thuộc khó dứt. Những chuyện người làng, hội làng, giỗ chạp,  lễ tết, kết chạ, giao lưu đồng tuế, đồng hương,cũng như chợ quê,sông quê cùng luỹ tre, cây đa, con đò, bến nước với  cảnh cũ người xưa chan chứa yêu thương làm nên tình quê đầm ấm, giản dị, như mãi  mãi níu kéo con người. Có thể nói là các thiết chế văn hoá làng - xã, toàn bộ cảnh quan đặc sắc tinh thần thượng võ, phong tục tập quán nhân văn miền quê, tất cả âm thanh, sắc màu, mùi vị, dân dã khó quên trò chơi dân gian phong phú, ẩm thực riêng có của mỗi vùng đối với người Việt Nam đã trở thành tâm hồn, như một thứ tâm linh, tín ngưỡng khó phai nhạt.
Biết gạn đục khơi trong là cách làm khôn ngoan trong xây dựng LVH. Hướng về cội nguồn, tri ân người có công với dân với nước, bất kể là nhân thần hay nhiên thần đều là cách làm tốt mang lại hiệu quả  tích cực trong xây dựng nông thôn mới, thực hiện vừa “chống”  vừa “xây”  lấy “xây” để “chống” có ý nghĩa trước mắt, đồng thời có ý nghĩa lâu dài đối với việc xâydựng con người mới, xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh ở cơ sở.
Nghiên cứu, khai thác và phát huy các giá trị văn hoá tốt đẹp của cha ông kể cả giá trị vật thể và phi vật thể với tinh thần khoa học, thực sự cầu thị, trân trọng quá khứ và thực tiễn lịch sử, biết kế thừa có chọn lọc cũng như xử lý các vấn đề cụ thể để xây dựng LVH  đã tạo nên thành công ở nhiều địa phương.
Từ 20 LVH được tôn vinh lần đầu năm 1992, đến hàng trăm, rồi hàng ngàn LVH lần lượt được công nhận, trong đó có rất nhiều làng “mỹ tục khả phong” trước đây, làng “tiến sỹ”, làng có truyền thống cách mạng, kháng chiến. Cũng có rất nhiều làng nghề nổi tiếng, làng sản xuất giỏi, làng “xanh - sạch - đẹp”, như cái đẹp  nối tiếp cái đẹp, truyền thống nối tiếp truyền thống xây dựng LVH là xây dựng môi trường, là tạo điều kiện cần có để xây dựng Gia đình văn hoá là phong trào đã hình thành từ năm 1961 và phát triển sâu rộng trong toàn quốc đang rất có ý nghĩa hiện nay. Đó là mối quan hệ  tác động, bổ xung cho nhau, cùng hỗ trợ cho sự tồn tại và phát triển bền vững của các phong trào ở cơ sở.
Cho nên xây dựng LVH là việc tạo ra giá trị mới là sản phẩm văn hoá mới phù hợp với hoàn cảnh đất nước, con người đổi mới, phấn đấu đi lên công nghiệp hoá, hiện đại hoá, và hôm nay đã bước vào hội nhập thế giới.
Một LVH đích thực là niềm tự hào của mỗi người dân, mỗi cộng đồng. Nó là kết quả nỗ lực của từng người, từng gia đình, dòng họ và cả làng - xã, trong đó vai trò, trách nhiệm như một nguyên tắc, đã được xác lập cũng như thực tiễn kiểm nghiệm là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ.
Kết quả của phong trào xây dựng LVH được xác nhận danh hiệu thi đua khen thưởng của nhà nước, được bình xét hàng năm ở các địa phương từ cơ sở lên và tôn vinh  như tôn hiệu cao quý của cả cộng đồng.
 Những LVH như thế có tác dụng giáo dục đối với con người và là cầu nối quá khứ, hiện tại và tương lai.Như những điểm sáng văn hoá ở nông thôn trong phong trào LVH  đã xuất hiện những LVH du lịch tâm linh – sinh thái hấp dẫn.Đó là tiềm năng của Văn hoá và Du lịch cần được quan tâm đầu tư khai thác và phát triển.
Cái đẹp, cái hay, cái tốt, cái mới là giá trị, Nhiều LVH đến nay không những xứng đáng để nâng niu, chiêm ngưỡng mà còn để giới thiệu cho khách thập phương cả trong và ngoài nước. Làng Việt trong quá khứ cũng như Làng văn hoá hiện nay có rất nhiều điều bổ ích  và để suy ngẫm cho việc xây dựng Làng Văn hoáDu lịch các dân tộc Việt Nam.
Làng văn hoá du lịch các dân tộc Việt Nam (LVHDL các DTVN) khác với Làng văn hoá văn hoá trong cuộc vận động xây dựng Làng văn hoá ở cơ sở và như một phong trào văn hoá của toàn dân mà bấy lâu nay cả nước đã và đang thực hiện. Cũng đều do ngành văn hoá quản lý, chỉ đạo nhưng  LVHDL các DTVN là một đơn vị văn hoá nhà nước duy nhất lớn như  hiện nay, có Ban quản lý điều hành tương đương cấp tổng cục. Quy mô của LVHDL các DTVN cũng lớn nhất với diện tích trên 1500ha bao gồm khu nam hồ Đồng Mô - Ngải Sơn, Sơn Tây, nay thuộc về Hà Nội, trong đó có nhiều hạng mục công trình văn hoá, thiết chế văn hoá dân tộc và hiện đại tiêu biểu và có thể chưa từng có ở Việt Nam.
Tuy chúng ta đã có rất nhiều công trình văn hoá như Bảo tàng,Thư viện, di tích lịch sử văn hoá,Công viên…nhưng quy mô hạn chế, nội dung chuyên sâu, vị trí đơn lẻ… không thoả mãn tình hình phát triển và yêu cầu hoạt động hiện nay.
Làng văn hoá Du lịch các DTVN là đơn vị văn hoá tổng hợp vượt xa những gì đã nói tới, rất đa năng như chúng ta đang kỳ vọng. Đó là tổng thể hữu cơ tập trung tái hiện, giữ gìn, phát huy và khai thác các di sản văn hoá truyền thống của 54 dân tộc anh em; giới thiệu đất nước con người Việt nam qua các thời kỳ lịch sử; giới thiệu các di sản văn hoá nổi tiếng của thế giới và là một quần thể nghỉ ngơi, vui chơi giải trí, du lịch, khách sạn tổng hợp, quy mô lớn của cả nước.
Đó là mô hình một khu Kinh tế - Văn hoá đặc thù, trong đó văn hoá vừa là động lực vừa là mục tiêu, được huy động nhiều nguồn vốn xây dựng, thực hiện, xã hội hoá mạnh mẽ trong đầu tư và khai thác tích cực với vốn đầu tư theo dự án khoảng 9300 tỷ đồng;  ngân sách cho phát triển đến 2015 gần 3300 tỷ đồng.
Sự ra đời của  LVHDL các DTVN có ý nghĩa lịch sử, góp phần xây dựng nền Văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, thoả mãn nhu cầu của nhân dân về một địa chỉ văn hoá tiêu biểu tầm cỡ quốc gia, có tác dụng giáo dục văn hoá lâu dài và phổ cập văn hoá cho mọi đối tượng, trong mọi thời gian, đặc biệt là thế hệ trẻ.
Ý tưởng về một LVHDL các DTVN ra đời từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước do Sở VH- TT  Hà Nội lúc đó đề xuất. Ban đầu dự kiến rất khiêm tốn là làm ở Bách Thảo; khi xây dựng Đề án tiền khả thi định làm ở khu Liên Trì - Đông Anh và cuối cùng là khu Đồng Mô, Ngải Sơn. Việc hình thành Ban quản lý, hoàn thiện dự án như hiện nay đã được xác định bởi văn bản mới nhất của Thủ tướng chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, tại quyết định số 540/2008 QĐ/ TTg ngày 12/5/2008 và quyết định số 95/2008/QĐ/ TTg ngày 10/7/2008.
Việc lựa chọn Đồng Mô, Ngải Sơn cho LVHDL các DT VN có thể nói là lý tưởng bởi địa hình đồi núi đa dạng, hồ nước rộng (trên 900 ha), cự ly không xa so với Trung tâm thủ đô khoảng 30 - 40 km rất tiện đi lại. Mặt bằng lại thoả mãn cho việc kiến tạo các công trình văn hoá theo dự án, hấp dẫn du khách thường xuyên. Đặc biệt là việc sáp nhập Hà Tây vào  Hà Nội càng tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng và khai thác, phát huy cũng như điều hành của  LVHDL các DT VN từ nay về sau.
LVHDL các DTVN có 6 khu chức năng, có thể còn điều chỉnh, nhưng chung qui lại vẫn là 2 chức năng chủ lực: chuyên môn văn hoá - thể thao -  du lịch và dịch vụ đảm bảo, hỗ trợ.
            Chức năng chuyên môn văn hoá -  thể thao - du lịch là yếu tố cơ bản làm nên bản chất của sự ra đời, tồn tại và phát triển của LVHDL các DTVN, trong đó yếu tố văn hoá như sợi chỉ đỏ xuyên suốt tất cả các khâu chuyên môn và dịch vụ. LVHDL các DT VN không chỉ là địa chỉ mới, điểm hẹn mới của Văn hoá, mà nó còn là một cơ sở văn hoá tổng hợp, lớn nhất của quốc gia, để những ai đến đó có thể chiêm ngưỡng, học hỏi, khám phá một phần tinh hoa giá trị của văn hoá dân tộc, tiếp cận với văn hoá nhân loại và văn minh thế giới.
Khu các làng dân tộc đại diện cho 54 dân tộc anh em sẽ là một khu  văn hoá khổng lồ,  đặc sắc với biết bao những di sản vật thể  và phi vật thể được chọn lựa tái hiện. Một đơn vị hành chính cấp tổng thời  xã hội cũ có khoảng 3 đến 5 làng – xã. Còn nơi đây là  một quần thể  các làng, như một Đại tổng của đại gia đình các dân tộc Việt Nam xum họp. Rồi đây không phải  cứ đi đâu đó  các miền quê, mà chỉ cần một nơi đến sẽ gặp lại hình bóng thân quen của một làng quê, một thôn ấp, một buôn bản của Việt Nam cũng với chỉ một lần đến.
            Nơi đây sẽ như một Đại Bảo tàng sinh động về cấu trúc làng từ quy hoạch xây dựng, cảnh quan môi trường, kiến trúc, mỹ thuật, trang trí nội thất, đến sinh hoạt, tổ chức hoạt động tín ngưỡng tâm linh, lễ hội của các dân tộc ở Việt Nam.
            Chỉ như thế thôi đã biết bao sâu sắc, ý nghĩa, thú vị. Chỉ ở đây thôi đã nói lên bao điều về  đại đoàn kết dân tộc, về bản sắc văn hoá và chính những điều đó đã góp phần làm nên sức mạnh tinh thần diệu kỳ của con người Việt Nam qua bao thăng trầm lịch sử.
Đến LVHDL các DTVN còn  được thấy hình ảnh thu nhỏ về đất nước Việt Nam qua các thời kỳ dựng nước và giữ nước. Việc làm này không mới, nhưng cái mới ở đây là quy mô hoành tráng, xây dựng hiện đại với điều kiện hiện nay, đặc biệt là tính  lựa chọn cao về các nội dung thể hiện. Đến đây sẽ như một dịp trở về với quá khứ cội nguồn; tiếp cận với lịch sử gần 4000 năm dài của dân tộc Việt Nam một cách xúc tích, sinh động và ngắn gọn, đầy tính thuyết phục.Sự thật lịch sử hào hùng của cả dân tộc được minh hoạ, giới thiệu, trưng bầy, thể hiện  hấp dẫn sẽ có tác dụng giáo dục mạnh mẽ lòng yêu nước nồng nàn, niềm tự hào dân tộc càng nâng cao, chí khí con người thêm hun đúc, bồi đắp.
Đến LVHDL các DT VN sẽ được tiếp cận với một thế giới thu gọn qua các công trình văn hoá nổi tiếng của nhân loại, các lễ hội đặc sắc của các nền văn minh, các món ẩm thực chọn lọc từ các châu lục.
LVHDL các DTVN như một sổ cửa lớn để nhìn ra thế giới bao la. Đến đó người ta chẳng những thấy thế giới như gần gũi, thân thiện mà còn nâng cao nhận thức, thêm biết mình, biết người, góp phần làm xích lại gần nhau hơn giữa những con người và dân tộc tưởng chừng như rất xa cách.
LVHDL các DTVN sẽ là một khu Du lịch – Thể thao, vui chơi giải trí nổi tiếng bậc nhất Việt Nam hiện nay.
            Chắc chắn những gì trước đây chưa có điều kiện làm, nay ở LVHDT các DTVN cố gắng làm được với tinh thần vì con người và phục vụ cho phát triển con người.
            Làng VHDL các DTVN có thuận lợi chung như các đơn vị, cơ quan văn hoá khác nhưng lại có rất nhiều khó khăn riêng của mình bởi nhiệm vụ nặng nề, công việc to lớn, nhiều việc không có trong tiền lệ.
            Chúng ta đã từng có mô hình khu vui chơi giải trí Đầm Sen, Suối Tiên (TP Hồ Chí Minh), Mađagui (Lâm Đồng), có Đại Nam Quốc Tự ( Bình Dương), gần đây có Tràng An – Bái Đính (Ninh Bình) như báo chí đã nêu. Ở nước ngoài đã từng làm như Trung Hoa Cẩm tú. Disneyland,Santosa…vv nhưng mục tiêu, nội dung, cách làm cũng như điều kiện chủ quan, hoàn cảnh địa lý, khí hậu mỗi nơi mỗi khác; hơn nữa nhu cầu tập quán của người dân các nơi cũng không giống nhau .
            Để thành công LVHDL các DTVN sẽ phải làm mới và làm khác, không dập khuôn những gì đã có để tạo nên cái riêng cho mình, để xây dựng thương hiệu của mình, đồng thời quảng bá rộng rãi cho mình.Làng VHDL các DT VN có hồn Việt, tâm linh Việt để hấp dẫn người đến và lưu luyến người đi.
            Sự ra đời và phát triển của LVHDL các DTVN cùng các hoạt động sôi động, nội dung thiết thực sâu sắc đã và sẽ diễn ra nơi đây làm cho LVHDL các DTVN trở thành vùng sáng văn hoá có tính chuyên nghiệp và là  là một điểm sáng hướng tới Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long  Hà Nội. Lễ hội các Dân tộc Việt Nam diễn ra ngày 18 – 19 tháng 4 năm 2009 là một thí dụ và sẽ được tổ chứuc thường xuyên vào dịp lễ hội văn hoá các dân tộc chính tại nơi này.
            Làng VHDL các DTVN nơi hội tụ các biểu tượng văn hoá và là một biểu tượng đẹp của Văn hoá Việt Nam
Hà nội  4.2009
 
Nguồn : Hà Văn Tăng
>> Xem tiếp
 
← Trở lại | ↑ Top    
Tranh cổ động
Tạp chí
Music
Album ảnh
Thời tiết