Chào mừng đến với cổng thông tin điện tử CỤC VĂN HÓA CƠ SỞ
Tìm kiếm thông tin
Liên kết website
Thống kê truy cập
  • Online: 13
  • Visited: 5755409

Đất học Lạc Tràng

Làng Lạc Tràng - xã Lam Hạ - thành phố Phủ Lý - tỉnh Hà Nam, một miền quê thanh bình như bao miền quê khác đang có nhiều khởi sắc trong công cuộc xây dựng nông thôn mới, nhất là trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế cùng với thực hiện cuộc vận động phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”. Mảnh đất này, từ lâu đời đã có một truyền thống hiếu học đáng trân trọng và tự hào.
Xa xưa, nơi đây là bãi sậy hoang vu thuộc quận Giao Chỉ. Thời thuộc Đường, lệ vào An Nam đô hộ phủ. Đến thời nhà Trần, đất này thuộc huyện Cổ Bảng, châu Lỵ Nhân, sau đổi thành lộ Lợi Nhân. Sang thời Lê Quang Thuận (1460 - 1469), thuộc   phủ Lỵ Nhân của Sơn Nam thừa tuyên. Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831), thuộc phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nội. Ngày 20/10/1890 thành lập tỉnh Hà Nam, nơi này thuộc xã Lạc Tràng, tổng Phù Đạm, huyện Kim Bảng, phủ Lý Nhân. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, thuộc xã Liêm Khiết, huyện Thanh Liêm. Sau cải cách ruộng đất, thuộc xã Tiên Hoà, sau là xã Lam Hạ, huyện Duy Tiên. Tháng 9/2000, Làng Lạc Tràng, xã Lam Hạ chính thức thuộc thị xã Phủ Lý (nay là thành phố Phủ Lý), trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của tỉnh Hà Nam.
Qua hàng nghìn năm, với nhiều lần thay đổi về địa giới hành chính, mảnh đất này ngày càng được mở rộng bởi phù sa của các dòng sông Châu, sông Đáy bồi đắp. Con người từ nhiều vùng cũng về đây khai khẩn đất đai, dựng ấp lập làng ngày thêm đông đúc. Qua các thư tịch Hán Nôm còn lưu giữ ở địa phương (thần phả, gia phả, sắc phong, văn bia…) cùng với sự tìm hiểu qua các cụ cao niên trong làng được biết: Từ xa xưa, nhiều nhà nho của các dòng họ Vũ, Đinh, Phạm, Bạch…đã về đây mở đất, lập nên ấp Lạc Tràng rồi dạy chữ cho dân làng. “Lạc Tràng” theo nghĩa Hán tức là nơi an lạc, vui vẻ. Các ông tổ lập làng Lạc Tràng vốn là những nhà nho nên đã ươm lên ở nơi này truyền thống hiếu học từ rất sớm. Trước đây, nhân dân ở làng đã lập văn chỉ thờ đức Khổng Tử nhằm giáo dục đạo lý tôn sư trọng đạo cho con cháu. Hàng năm, nhân dân thường tổ chức tế lễ Khổng Tử “xuân thu nhị kỳ” vào ngày rằm tháng 2 và tháng 8 âm lịch.
 Đất và người Lạc Tràng đã góp phần không nhỏ vào lịch sử khoa bảng của tỉnh Hà Nam. Theo thống kê ban đầu về các nhà khoa bảng của tỉnh, huyện Duy Tiên có số người đỗ đạt Tiến sỹ cao nhất (21 người), riêng làng Lạc Tràng đã có bốn người. Có thể thấy, làng Lạc Tràng cùng với làng Châu Cầu ở thành phố Phủ Lý ngày nay là những nơi có số Tiến sỹ nho học nhiều nhất tỉnh.
Ngay đầu triều đại Lê Sơ, dưới đời vua Lê Nhân Tông, niên hiệu Thái Hoà 11 (1453), ông Hoàng Thuấn, người làng Lạc Tràng đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân khoa Quý Dậu, ông làm quan đến chức Tham chính. Đời vua Lê Huyền Tông, niên hiệu Cảnh Trị thứ 8 (1670), ông Phạm Viết Tuấn đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân khoa Canh Tuất khi 40 tuổi, ông làm quan đến chức Giám sát ngự sử; trong suốt sự nghiệp làm quan, ông luôn sống chính trực, vì có nhiều lời nói thẳng, nên bị gièm pha, trở thành đắc tội với triều đình; sau khi ông mất, triều đình minh oan và phục lại chức cũ cho ông.
Hai vị khoa bảng ở triều nhà Nguyễn đã để lại rất nhiều dấu ấn sâu sắc trong nhân dân còn lưu truyền đến ngày nay, đó là Bạch Đông Ôn và Vũ Duy Tuân.
Bạch Đông Ôn, tự là Hoè Phủ, sinh Năm Tân Mùi (1811), là con trai trưởng của cụ Bạch Quốc Bính. Ông thi đỗ Cử nhân khoa Giáp Ngọ (1834), năm 25 tuổi đỗ Đệ nhị giáp Tiến sỹ xuất thân (Hoàng Giáp) khoa Ất Mùi, niên hiệu Minh Mệnh thứ 16 (1835). Sinh thời, ông học rất thông minh. Thi đỗ Hoàng Giáp, trước sau ông chỉ giữ một chức quan bậc trung, tính khí cương trực, điềm đạm và liêm khiết. Đời vua Thiệu Trị, ông làm quan Ngự sử, nhiều lần can gián triều đình việc đem quân đi lấn chiếm và đề nghị cho bãi binh để quân sỹ được nghỉ ngơi, phục hồi sức khoẻ, nhà vua phải nghe. Khi đi thanh tra trấn Bắc thành để xem xét việc quan tham ô lại, ông làm việc công minh, ai có công thì thưởng, ai có tội thì phạt chứ không hề ăn đút lót của ai. Năm 1847, khi đang làm Lang trung bộ Lễ, vì bị ốm, ông dâng sớ xin nghỉ về quê chữa bệnh. Vua Thiệu trị vốn không ưa gì con người cương trực, thẳng thắn ấy, nên nổi giận, cho rằng ông thoái thác việc triều đình, giáng chức ông xuống làm Chủ sự, rồi bắt ông phải “về hưu non” khi ông mới 36 tuổi. Ông về nghỉ tĩnh dưỡng ở phố Hàng Đào (Hà Nội) làm nghề dạy học, lúc rảnh rỗi, ông chỉ uống rượu và ngâm thơ làm nguồn vui. Người đương thời đã ví ông với Đào Tĩnh Tiệt (tức Đào Tiềm). Với cuộc sống đời thường, ông cũng hết sức đạm bạc, thích uống rượu với ngô rang, cơm ăn chỉ có tương cà, dưa mắm. Bạn bè và học trò cũ của ông thấy vậy đem tiền bạc đến biếu, ông nhất định không nghe, ai biếu rượu thì ông nhận. Sau có người bạn bỏ bạc nén vào hũ rượu rồi cho người nhà mang đến biếu, ông uống hết rượu thấy có bạc trong hũ liền mang trả cả hũ lẫn bạc. Năm 1881, ông mất tại Hà Nội, thọ 70 tuổi. Khi ông mất, vua Tự Đức viếng bốn chữ “Thanh bạch vi thủ” (tức Thanh bạch làm đầu) và truy tặng sắc “Diên thọ quận công”.
Hơn 30 năm sau, người dân Lạc Tràng lại trống dong cờ mở nghinh đón người con dòng họ Vũ của quê hương về vinh quy bái tổ. Đó là quan Ngự Lạc Tràng - Vũ Duy Tuân. Ông sinh sinh năm 1840, đỗ Cử nhân trường Hà Nội khoa Đinh Mão (1867), vào thi Hội khoa Mậu Thìn (1868), đỗ Phó bảng, làm quan dưới triều vua Tự Đức đến chức Ngự sử khi mới 29 tuổi. Vũ Duy Tuân xuất thân từ dòng họ nổi tiếng về truyền thống khoa bảng. Theo cụ Vũ Tử Mẫn, vị cao niên của làng thì: Họ Vũ ở Lạc Tràng là một nhánh có gốc từ làng Mộ Trạch, xã Tân Hồng, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Ông tổ của họ Vũ là cụ Vũ Hồn, từng làm quan dưới triều nhà Đường (Trung Quốc) tới chức Lễ bộ Thượng thư Tả thị lang. Vì thương mẹ là người ở Hải Dương phải sống xa quê hương, cụ Vũ Hồn đã xin với vua Đường được từ quan để đưa mẹ về đất Việt phụng dưỡng. Trước tấm lòng hiếu thảo của cụ, Vua Đường chấp thuận, cụ đưa mẹ về làng Mộ Trạch lập ấp và chăm sóc tuổi già của mẹ. Sau này, con cháu của cụ Vũ Hồn có nhiều người đỗ đạt cao, giữ nhiều chức tước, đóng góp công sức vào sự nghiệp chống ngoại xâm, xây dựng và bảo vệ nền độc lập, tự chủ của đất nước từ các triều đại Lý, Trần, Lê…Noi gương tổ tiên, ông Vũ Duy Tuân đã làm rạng danh thêm cho dòng họ Vũ ở Lạc Tràng.
Quan ngự Lạc Tràng vốn người tư chất thông minh, có tài tiên đoán và ý thức tự tôn dân tộc rất cao. Được biết, ngày ông vào thi Hội, các sỹ tử (đủ mặt cử nhân các trường Bắc, Trung, Nam) bàn bạc đoán xem đầu bài sẽ ra vấn đề gì. Vũ Duy Tuân không cần suy nghĩ lâu liền lên tiếng: Theo ngu ý của tôi, năm nay quân Pháp ngoài sự khiêu khích ra, còn xây thành đắp luỹ ở khắp nơi, đặt binh trại rải rác gần kinh thành, có ý nhòm ngó, tôi chắc kỳ văn sách này thế nào Đức kim thượng cũng hỏi về “công thủ chi sách” (kế sách đánh hay hoà), anh em nghĩ sao? Các sỹ tử đều khen phải, rồi bàn nhau nếu đề bài đúng như vậy thì nhất tề luận theo thế “công”, quyết xin Đức kim thượng chủ trương cầm cự để tỏ lòng nghĩa khí của sỹ phu. Khi vào trường thi, quả đúng như lời ông tiên đoán. Văn sách ra đề như sau: Quân xâm lăng hiện nay ngày càng thêm gây hấn, đồn luỹ khắp dân gian, vậy nên đánh hay nên hoà? Sỹ tử thấy đầu đề đều tâm phục Vũ là cao kiến và đồng tâm làm bài xin triều đình khởi thế “công”. Riêng Vũ Duy Tuân, văn bài có nhiều ý chỉ trích mạnh mẽ, không làm vừa lòng quan chủ khảo và phái chủ hoà trong triều đình, nên chỉ được cho đỗ Phó bảng. Dẫu sao với đồng môn, Vũ Duy Tuân vẫn là người nêu cao sỹ khí, nên được hết thảy sỹ phu ngợi khen, khâm phục. Tuy nhiên, do ông có tài, triều đình vẫn phải để ông làm quan giữ chức Ngự sử, tính ông quả cảm, cương trực, các quan trong triều đều nể trọng.
Vua Tự Đức có thân mẫu là Từ Dụ Thái hậu, Vua rất có hiếu, thường quanh quẩn bên màn, sớm hôm hầu hạ, nên việc triều chính có phần trễ nải. Bên ngoài thì quân Pháp chỉ lăm le thôn tính, tình thế nước nhà ngàn cân treo sợi tóc. Có nhiều việc quan trọng, khẩn cấp cần phải tấu trình, Vũ Duy Tuân xin vào chầu mấy lần mà không được gặp, sau  phải dâng sớ có câu “Yến tước sử đường, mẫu tử tương hộ, hú hú nhiên kỳ tương lạc, tự dĩ vi an”. Nghĩa là: “Nhà cháy đến nơi mà mẹ con chim én, chim sẻ ở góc đầu nhà vẫn cùng mớm nhau, ra chiều vui vẻ, tự cho là yên ổn lắm”. Nhà Vua xem xong giận quá, châu phê bốn chữ “Tiến sỹ bất đệ” có ý mỉa mai rằng: Tiến sỹ cũng không đỗ được, còn làm nên trò trống gì mà cứ hay chỉ trích. Thấy lời tấu không được Vua chấp thuận, ít lâu sau ông dâng sớ xin Vua được từ quan. Khi từ giã triều đình, ông cho khắc bốn chữ “Tiến sỹ bất đệ” vào biển sơn son thếp vàng treo trên chỗ ngồi ngầm nói rằng: “Ở lăng miếu hay ở giang hồ, lúc nào cũng nhớ lời Vua quở trách, dù phi lý”. Thấy không tiện về quê, ông đến ở nhờ nhà một người bạn họ Lê quê làng Kim Lũ, huyện Thanh Liêm, rồi làm nghề dạy học ở đó. Ông mất năm 1915, thọ 75 tuổi.
Cùng với truyền thống hiếu học, người dân làng Lạc Tràng còn luôn giữ gìn, phát huy truyền thống văn hoá của cha ông để lại hiện diện qua các di tích và lễ hội.
Trước đây, làng Lạc Tràng có 3 ngôi đình: Đình giáp Ngô thờ Đông Hải đại vương, đình giáp Bắc thờ Đức thánh Cả (hai ngôi đình này, nay không còn do chiến tranh tàn phá), hiện chỉ còn ngôi đình giáp Đông thờ Đông Hải đại vương và Đô Thiên đại vương, đình vẫn bảo lưu được đường nét kiến trúc cổ truyền dân tộc từ thời Nguyễn. Bên cạnh việc xây dựng đình làng để thờ thành hoàng làng, nhân dân còn lập ngôi đền thờ Quý Minh phu nhân cầu cho nhân khang vật thịnh. Những năm gần đây, Ban quản lý di tích cùng nhân dân địạ phương đã trùng tu lại ngôi đền, mang lại vẻ bề thế, uy nghiêm cho di tích. Thời trước, tại đình và đền, vào ngày 11 tháng 6 và  ngày 29 tháng 9 (âm lịch), dân làng mở lễ hội rất trọng thể. Vào năm gặp hạn hán thì tổ chức lễ đảo vũ (cầu mưa) ở quy mô hàng tổng. Đặc biệt, ở Lạc Tràng có ngôi chùa được dựng vào năm Bảo Đại tam niên (1928) do ông Bạch Hàn Lam tự thiết kế và bỏ tiền của ra xây dựng. Chùa thờ Phật, Khổng Tử và Thái Thượng lão quân (tam giáo đồng nguyên). Trong chùa có hai pho tượng rất lớn và đẹp, hiếm thấy ở các chùa trong vùng. Hội chùa kéo dài tới 12 ngày vào trung tuần tháng 2 (âm lịch) hàng năm với nhiều sinh hoạt văn hoá đặc sắc như múa rối, múa sư tử, chơi tổ tôm điếm, buổi tối có hát chèo và đốt pháo bông. Đẹp và hấp dẫn hơn cả là màn đốt pháo bông giữa sân chùa. Cây bông được đốt từ dưới lên, lần lượt phát ra các điển tích như: Kim Trọng gặp Thuý Kiều, xay lúa giã gạo…, trên cùng phát ra tiếng nổ và hiện lên bức hoành phi mang dòng chữ “Thánh cung vạn tuế”. Đây là một bí truyền của các nghệ nhân làng Lạc Tràng xưa.
Tiếp nối tiền nhân, các thế hệ ở làng Lạc Tràng đã phát huy tốt truyền thống hiếu học và học giỏi, xứng đáng với lớp cha ông, có nhiều người thành đạt, giữ những chức vụ cao như: Trước Cách mạng Tháng Tám có cụ tổng Tái (tức Vũ Khả Hiên), là thầy dạy học nổi tiếng đức độ trong vùng, nhân dân kính trọng; cụ Bạch Văn Trụ đỗ Cử nhân cùng khoá với Hoàng thân Xi-ha-núc rồi sang hoạt động cách mạng ở Căm-pu-chia. Sau năm 1945, có ông Nguyễn Ngọc Liễn, nguyên Thiếu tướng Quân đội nhân dân Việt Nam, nguyên Phó tư lệnh bộ đội đặc công, sau này kiêm Hiệu trưởng Trường Sỹ quan đặc công, là người đã cùng đồng đội bắn rơi máy bay giặc Pháp đầu tiên bằng súng bộ binh, được Quân đội ta lúc bấy giờ phát động phong trào thi đua noi gương học tập; ông Đinh Văn Hài từng giữ chức vụ Cục phó Cục An ninh quốc gia; ông Vũ Tuấn Việt là Đại biểu Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX, nguyên Tổng biên tập Báo Sài Gòn giải phóng; bà Vũ Thị Ngọc Thanh, nguyên Tỉnh uỷ viên, nguyên Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Nam; ông Vũ Trường Giang có học vị Thạc sỹ, rồi Tiến sỹ. Ngoài ra, còn chưa kể rất nhiều người là kỹ sư, bác sỹ, cử nhân…của làng hiện nay đang công tác trên nhiều lĩnh vực ở khắp mọi miền của Tổ quốc.
Làng Lạc Tràng - một miền quê văn hiến và hiếu học còn ít người biết đến. Quý khách gần, xa xin hãy đến thăm nơi này, dù chỉ một lần và chắc rằng sẽ thu được nhiều điều bổ ích./.
 
 
  Nguồn : Trương Minh Tuấn
>> Xem tiếp
 
← Trở lại | ↑ Top    
Tranh cổ động
Tạp chí
Music
Album ảnh
Thời tiết